Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Từ sáng ngày 19.2, rất nhiều du khách đã đổ xô về Sapa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh trong tuyết trắng. Tuyết bắt đầu rơi lúc 2h, nhiệt độ xuống thấp ở mức -0,2 độ C và phủ trắng mọi vật từ khu vực điểm cao đèo Ô Quý Hồ (khoảng 2.000m) lan dần đến khu vực ngã ba Nhà máy nước (thị trấn Sa Pa, khoảng 1.600m).

Đây là lần đầu tiên tuyết rơi ở Sapa trong năm nay, tuyết khiến những cành đào Sapa đẹp lung linh trong tuyết trắng. Hiện tuyết rơi ngày càng mạnh và đã phủ một lớp 3-5 cm trên mặt đất hai bên mặt đường quốc lộ 4D Sa Pa - Lai Châu. Trong khi những du khách đổ xô lên Sapa để ngắm tuyết và hào hứng chụp ảnh... thì lại có một thục tế: Đằng sau vẻ đẹp của tuyết là sự đói khổ!

“Ở đâu cũng thế, những người nghèo là khổ nhất. Tuyết rơi lạnh thế này, đằng sau cái vẻ đẹp của nó thì nó cũng mang tới sự đói khổ. Hoa màu, gia súc thiệt hại. Cái lợi từ du lịch chỉ có tác dụng trên một số người, nhưng phần lớn những người nghèo thì thiệt hại nặng nhất”, một bạn trẻ chia sẻ.

Nhiệt độ giảm xuống âm 0,2 độ C vào sáng 19-2 khiến thị trấn Sapa có tuyết rơi với cường độ nhẹ, phủ lớp mỏng trên cây cối, nhà cửa. Một số vùng núi khác thuộc tỉnh Lào Cai như xã Y Tý (Bát Xát) - nơi nằm ở độ cao trên 2.000 m so với mặt nước biển cũng có mưa tuyết dày khoảng 5-10 cm. Hiện tuyết vẫn chưa tan hết.

Nghe tin Sa Pa có tuyết rơi, không còn sự hứng thú như những lần tuyết rơi trước, nhiều người trẻ bày tỏ sự xót xa, thương cảm với người dân Sa Pa khi hay tin có tuyết rơi.

Bạn Duy Khánh chia sẻ: “Đi leo Fansipan một lần đúng vào dịp tuyết rơi như thế này, tởn tới giờ. Ngày đầu tiên thì còn thích thú, đến tối thì lạnh không ngủ nổi, sáng hôm sau buốt cóng cả tay chân (mặc dù áo ấm khăn giày trang bị đầy đủ) đường trơn trượt leo rất nguy hiểm, cả đoàn đành bỏ cuộc khi đường lên đỉnh bị cây cối gãy đổ và tuyết chặn mất. Khi về xót nhất là thấy cảnh trâu bò chết dọc sườn núi, người dân đành đem xẻ thịt tại chỗ, như vậy là gần như mất trắng. Ảnh chụp đợt đó giờ nhìn lại vẫn phải chặc lưỡi "đẹp lạnh lùng". Không mong tuyết rơi trên Sapa, đồng bào trên ấy khổ lắm”.

Đã từng lên Sa Pa vào đúng mùa mưa rét, cảm nhận được sự khắc nghiệt của cái lạnh cắt da cắt thịt trên đó nên Hoài Anh (Ba Đình, HN) rất đồng cảm với đồng bào trên đó: “Cách đây vài năm mình cũng tới Sapa vào mùa đông, lúc đó không có tuyết rơi nhưng cũng lạnh lắm. Mình thì mặc áo trong , áo ngoài vẫn thấy rét ơi là rét. Vậy mà vào trong bản vẫn thấy có em nhỏ chỉ tầm 3 tuổi thôi nó vẫn cởi chuồng, mặc áo thì phong phanh. Nhìn thấy mà thương quá. Bà con vùng núi của mình vẫn còn nghèo và thiếu thốn quá. Vậy mà giờ lại có tuyết rơi thì lạnh lắm”.

Còn chị Lê Thúy, quê Lào Cai, đang làm việc ở Hà Nội, nghe tin quê nhà có tuyết mà quặn lòng. “Rét buốt thế này, thương mẹ, thương các em, các cháu ở nhà quá”.

Ngay cả những bạn trẻ mê “phượt”, ưa khám phá, khi nghe tin Sa Pa lại có tuyết rơi cũng không còn hứng thú: “Đẹp thật. Nhưng chúng ta chỉ đi ngắm 1, 2 ngày thì thấy nó đẹp nhưng nhìn những đứa trẻ dân tộc phong phanh co ro trong cái rét xót xa lắm bạn ơi. Hy vọng các bạn nào đi Sapa mùa này có thể đem cho mấy em vài tấm áo ấm”, một bạn trẻ chia sẻ.

“Không biết trên đó có bao nhiêu đồng bào mình đang chịu rét và đói! Tội nhất là người già và trẻ em. Cầu mong cho nhiệt độ tăng lên, mặt trời sưởi ấm, tuyết tan”, một bạn trẻ khác tiếp lời.

Hiện tượng tuyết rơi cũng xảy ra ở nhiều nơi vùng cao phía Bắc tại Lào Cai, gồm các xã Y Tý, huyện Bát Xát. Còn tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, hiện tượng tuyết rơi cũng tái diễn lần thứ 3, tính từ giữa tháng 12.2013 đến nay, tại các xã: Tả Lủng, Giàng Chu Phìn, Cán Chu Phìn, Thượng Phùng, Xín Cái, với lượng tuyết dày từ 5 - 7 cm. Nhiệt độ trong ngày thấp nhất ở các xã vùng cao này chỉ còn 1 - 2 độ C.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

(NLĐ) - Nương theo câu thơ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, tôi đã đến Tây Bắc trong những ngày cuối năm đầy sương mù và rực rỡ màu hoa cải. Đó không đơn giản chỉ là một chuyến du lịch mà còn là hành trình của cả một giấc mơ...

< Sương mù trên đỉnh Thung Khe - Hòa Bình.

Tây Bắc đón tôi bằng “dốc sương mù” trên đỉnh Thung Khe (thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình) – trạm dừng cho khách du lịch xuống ngắm… sương, “thưởng thức” cái lạnh của miền cao và nghỉ chân ăn ngô luộc, cơm lam thịt nướng.

< Người già miền cao, nhớ câu thơ của Tố Hữu: "Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc..."

Tôi rất thích những bếp ngô vùng cao với lửa hồng ấm áp và mùi ngô thơm lựng, gợi nhớ câu thơ se sắt “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm – Một bếp lửa ấp iu nồng đượm – Cháu thương bà biết mấy nắng mưa…” trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt trong trang sách thưở nào. Tôi cũng đã từng dừng chân vào giữa sương khuya trên đường lên Hà Giang – Đông Bắc, mùi vị nước ngô ngọt mát ấy như vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ - cho những ký ức rất riêng về phương Bắc.

< Cơm lam trên đỉnh Thung Khe.

Có đi tôi mới hiểu rõ nhất những câu thơ đã được học từ thời cắp sách. Các thi sĩ, nhạc đã chọn đúng những cái tinh túy nhất của miền địa đầu Tổ Quốc, để những câu thơ mãi mãi khắc vào lòng người hình ảnh Tây Bắc là “mùa xuân hoa mơ hoa mận nở”, là “Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ - Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương…”.

< Khung cảnh Mai Châu rạng rỡ lúc nắng lên làm tan sương.

Tôi co ro trong lớp áo ấm dày, găng tay, mũ len nhưng vẫn hăng say đứng trong sương mù tận hưởng cảm giác ngất ngây giữa đất trời, một cảm giác hạnh phúc và bình yên đến vô biên không dễ gì có được giữa lòng phố thị.

< Hoa mận trắng Mộc Châu.

Ai đó đã từng nói rằng, khi ta đi càng nhiều thế giới sẽ càng thu hẹp lại. Với tôi, những chuyến đi còn là nối dài của giấc mơ. Ngày bé, những nơi địa đầu Tổ quốc cứ ngỡ là “vạn trường thiên lý”, cả đời có mơ cũng không bao giờ có thể đặt chân đến.

< Tây Bắc mùa xuân đẹp như tranh.

Quê tôi, có những người cả đời còn chưa bước chân ra khỏi cổng làng. “Lên thành phố” có khi còn không được huống gì là dặm trường đi tìm những giấc mơ...

< Và cánh đồng hoa cải...

Tôi nhớ mình đã hãnh diện đến rơi nước mắt khi đứng trên cột cờ Lũng Cú-Hà Giang; hạnh phúc trong ngần khi vừa đi vừa hát trong cái se lạnh của mù sương bình yên trên đỉnh Mã Pí Lèng; ngơ ngác như trẻ nhỏ giữa buổi chợ phiên Mèo Vạc – những điều lần đầu tiên trong đời được tận mắt chứng kiến, nhìn ngắm và say mê, rồi nhớ mãi không quên.

< ... làm say lòng khách phương xa.

Tây Bắc cũng vậy, dẫu rằng đường đến Mai Châu (tỉnh Hòa Bình), Mộc Châu “ mùa hoa cải” (tỉnh Sơn La) không đẹp, bằng phẳng và lãng mạn như đường lên Đông Bắc, nhưng núi đầu xuân đã kịp đón chúng tôi bằng những nụ hoa đào phơn phớt, những cánh đồng  cải trắng và cải vàng đẹp đến mê đắm lòng người.

< Đường đến cánh đồng hoa cải thơ mộng.

Có người trong nhóm đùa: “Sao mình siêng thế, cất công từ Nam ra Bắc, vượt đường xa lên núi chỉ để ngắm cải trắng, cải vàng?”. Nhưng người ta vẫn nói, hạnh phúc không phải là đích đến, mà đó là hành trình chinh phục và khám phá. Suốt chặng đường đến với mùa hoa cải Mộc Châu, lòng tôi cồn cào những cảm xúc khó tả. Hồi hộp, phấn khích, hạnh phúc, bình an trước chặng đường phía trước đầy những điều mới lạ, bất ngờ; được nhìn ngắm những miền đất mới, thẩm thấu những giá trị đậm bản sắc vùng miền, đến cả nắng và gió của miền sơn cước cũng khiến cho lòng người nhẹ nhàng, thanh thoát hơn.

< Về đây khi mái tóc còn xanh xanh - Về đây với ngày gió chiều lang thang...

Chúng tôi đi sâu vào phía những cánh đồng hoa cải vốn không dành cho khách du lịch, tận mắt chứng kiến một không gian bạt ngàn đã từng chỉ được được nhìn thấy trên những bức ảnh nghệ thuật về Mộc Châu đoạt những giải thưởng ảnh trong và ngoài nước. Được trò chuyện với “ông chủ vườn đào” vui tính, hiền lành. Và được “nhào” vào vườn hoa cải vàng rực trong nắng chiều thỏa thuê chụp ảnh...

< Mai Châu "mùa phơi váy".

Chúng tôi rời khỏi những vạt hoa cải làm say lòng người, không để lại gì ngoài những dấu chân và không mang theo gì ngoài những bức ảnh. Núi đẹp và bình yên như thiên thai. Càng đi nhiều, tôi càng nhận ra đất nước mình đẹp quá. Dải đất hình chữ S đầy những biến thiên, thăng trầm suốt chiều dài lịch sử; liên tục thiên tai và cuộc sống vẫn tiếp tục trải dài trong những vạn biến bất an. Thế nhưng, đất và người vẫn đẹp, vẫn rạng ngời những giá trị văn hóa vùng miền, vẫn là những “vùng đất diệu kỳ” cho những giấc mơ muốn được chinh phục, khám phá.

Tôi đã đi trong những giấc mơ của chính mình, để được cảm nhận rõ rệt nhất “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Nơi này, chúng tôi đã được vào thăm làng du lịch bản Lác, mặc những trang phục của đồng bào H’Mông, chia nhau chén rượu cần và trở về khi “ngón tay mình còn vương mùi nếp xôi”. Vẫn nhớ sao là nhớ những ngõ phố lạnh sớm mai, nụ cười của núi và những đôi mắt miền cao thăm thẳm…

Đi, đôi khi không nhất thiết để phải “học một sàng khôn”, mà đôi lúc chỉ là để thấy lòng mình dịu dàng với đất trời…

Theo Tiểu Quyên (Người Lao Động)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014

(iHay) - Mẫu Sơn nằm cách thành phố Lạng Sơn 30km về phía đông bắc, là nơi đầu tiên đón gió mùa đông bắc. Lâu nay, Mẫu Sơn vẫn là điểm du lịch ưa thích cho những người thích băng giá mùa đông hay khí hậu mát mẻ vào mùa hè.

< Trên đỉnh Mẫu Sơn.

Đường đèo lên núi tuy chỉ tầm 20km nhưng quanh co, khúc khuỷu, độ dốc cao và trơn trượt vào mùa mưa, băng giá vào mùa đông. Đường rất nhỏ, chỉ đủ cho một xe ô tô con đi và thi thoảng mới có những khoảng trống điểm nghỉ bên vực.

< Trên đỉnh Mẫu Sơn nhìn xuống con đường mình đã qua.

Mẫu Sơn còn được biết đến là khu nghỉ dưỡng từ thời Pháp thuộc với hàng chục ngôi nhà cổ được xây dựng, hiện tại bị bỏ hoang. Khung cảnh hoang tàn, rêu mốc của những công trình cổ cũng tạo ra nét độc đáo, huyền bí nơi đây.

< Đường lên Mẫu Sơn quanh co, khúc khuỷu...

< Khu du lịch Mẫu Sơn quanh năm mây phủ.

< Theo thời gian, nhiều ngôi biệt thự đã trở nên hoang phế, tạo cho Mẫu Sơn một vẻ gì đó huyền bí.

< Cảnh hoang tàn vương vãi khắp nơi.

< Khung cảnh huyền bí nhìn từ trong một ngôi nhà bỏ hoang.

< Chuồn chuồn ướt sương. Nơi đây quanh năm sương mù.

Theo iHay.Thanhnien
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

(SGTT) - Cao nguyên đã vào mùa khô. Trời bắt đầu lạnh. Sau một năm cày ải, nhóm bạn rủ đi chơi mà lần này phải đi về rừng. Có người đề nghị lên Măng Đen, nghe nói đẹp lắm. Trong số họ, nhiều người chưa từng đến đó, chỉ nghe. Với tôi, miền cao nguyên này không xa lạ nhưng bảo đi hết những nơi cần đến thì chưa. Lâu rồi chưa quay về, liền gật đầu, thì đi…

Lặng lẽ Kon Tum

Con đường 14 từ Pleiku lên Kon Tum ngập trong bụi trắng. Dễ có đến bốn năm rồi, từ khi chính thức khởi công, đoạn đường với chiều dài khoảng 50km vẫn chưa đâu vào đâu. Cứ chạy được vài cây số đường bóng láng lại phải sang số, “bò” trên những ổ voi, ổ trâu. Khách trên xe lắc qua lắc lại, xương cốt “răng rắc” theo từng vòng quay của bánh xe.

Phương Quý, Phương Hoà, Vinh Quang, Tân Hương, Đoàn Kết… Những địa danh vẫn còn đó. Những vườn rau vẫn còn. Nhưng những ngôi nhà cổ đã biến mất. Thay vào đó, những ngôi nhà lầu hiện ra. Con đường đá xanh dẫn vào khu làng Bahnar dọc sông Dăk Bla có hàng trăm năm tuổi giờ không còn nữa. Nghe kể rằng, khi mở đất, người Kinh và người Bahnar đã mở con đường ven sông, lát bằng đá xanh. Không gian phố hôm nay đổi thay nhiều quá. Quy luật phát triển là vậy, không thể ép người dân sống mãi trong những ngôi nhà chật hẹp, thấp lè tè để “giữ hồn phố cổ” trong khi xung quanh đã mọc lên những ngôi nhà cao tầng, đầy đủ tiện nghi!

Đầu năm ngoái (tháng 2.2013), Kon Tum kỷ niệm 100 năm thành lập tỉnh. Điều lạ là, dù xa xôi cách trở so với Pleiku và Buôn Ma Thuột, nhưng vào năm 1892, toà đại lý hành chính Kon Tum, đứng đầu là cố đạo người Pháp tên Vialleton (còn gọi là cha Truyền), đã chính thức hoạt động. Còn theo nguồn tài liệu của nhà giáo Trần Duy Phiên (sống ở Kon Tum từ những năm 1960), giữa thế kỷ 19, triều đình nhà Nguyễn đã cử đề đốc Võ Chuẩn làm quản đạo Kon Tum. Khi nhậm chức, ông mang theo binh lính là người xứ Huế, Bình Định lên, lập làng Võ Lâm, đánh dấu những người Kinh đầu tiên có mặt tại miền Thượng.

Dù đã “lên” thành phố (giữa năm 2009), Kon Tum vẫn là “phố buồn” như hơn 30 năm trước tôi đã sống. Kon Tum nay hiện đại hơn, người đông hơn nhưng không giấu được nét lặng lẽ. Ít tiếng còi xe. Càng không có kẹt xe. Thứ gì ở đây cũng chậm. Kêu một ly càphê, chờ 20 phút mới thấy mang ra mà dưới đáy ly chưa có giọt nào!

Mới đầu tháng 12 mà dòng sông Dăk Bla (tiếng Bahnar nghĩa là “dòng sông máu”) muốn cạn khô. Phía bắc sông đã được đắp kè chống xói lở. Bờ nam vẫn còn đất bồi nhưng cát không còn trắng như ngày xưa mà cứ nhợt nhạt.

Nhìn dòng sông chảy về phía mặt trời lặn, ai đó đã đặt tên “dòng sông chảy ngược”. Cuồn cuộn nước đỏ vào mùa mưa, hiền lành và trong veo vào mùa khô, Dăk Bla từng là nguồn cung cấp những loại cá đặc biệt như cá ngựa, cá luối, cá tràu, chình…

Nhưng gần đây, cá ít dần, ngay cả những quán ăn lớn cũng không dám ghi đặc sản vào thực đơn vì không có hàng. “Mấy loại cá đó bây giờ ít lắm. Lâu lâu mới có vài ký để dành cho khách quen. Bây giờ chủ yếu ăn cá nuôi”, nhân viên quán Đồng Quê trên đường Phan Đình Phùng, nói.

Nói đến đặc sản ở Kon Tum là nhắc đến thú rừng, nhưng năm năm trở lại đây, không còn quán nào dám treo biển “ở đây có bán thịt rừng”. Kiểm lâm, công an phát hiện, cầm chắc phá sản. Vậy là chuyển qua ăn “thú rừng nuôi” như nai, chồn, nhím… bị người Kon Tum chê dở vì thịt nhão, chẳng mùi vị gì. “Thịt nuôi chỉ để dành bán cho khách thập phương. Muốn ăn món lạ, có món gỏi lá rừng và gà “đồng bào”. Ăn thử một lần cho biết”, Kim Phượng về làm dâu xứ này tròn 20 năm, nói. Món gỏi này năm năm trước tôi đã từng thử. Mùi vị tổng hợp: chua – đắng – bùi của các loại lá rừng, cộng với vị ngọt của tép đồng, vị béo của nước chấm được làm từ mẻ… làm mềm môi khách. Lần này, không còn nhiều thời gian, đành từ chối.

Vì con đường 14 xấu quá nên nhiều người ước ao Kon Tum có sân bay. Ước thì ước, chắc chẳng bao giờ được vì dân số thành phố Kon Tum chỉ ngót nghét 170.000 người, đa phần dân nghèo. Mong sao, đoạn đường Hồ Chí Minh (tên gọi mới của đường 14) nối liền Kon Tum và Pleiku sớm hoàn tất để khách phương xa đến với mảnh đất này nhiều hơn…

Lãng quên Măng Đen

Tôi tần ngần ở vòng xoay Phan Đình Phùng – Duy Tân. Nếu đi ngược Phan Đình Phùng về hướng Dăk Tô, sẽ đặt chân đến những địa danh “máu lửa” trong chiến tranh như đồi Charlie, sân bay Dăk Tô, sân bay Phượng Hoàng, Tu Mơ Rông... Còn đi hướng Duy Tân sẽ ra quốc lộ 24, đi Măng Đen, vùng đất được ví von là “Đà Lạt thứ hai”. Tôi quyết định chọn Duy Tân.

So với đường 14, đường 24 từ Kon Tum đi Măng Đen êm hơn, thỉnh thoảng mới gặp một vài ổ gà. Với nhiều tài xế lần đầu tiên đi con đường này vào ban đêm, đoạn đường 12km của đèo Măng Đen là một thử thách. Mặt đường nhỏ, nhiều “cùi chỏ”, vực sâu là dòng sông Dăk P’Ne, nhưng sợ nhất là tinh thần “đường ta rộng thênh thang ta chạy” của những tay xe xứ này…

Măng Đen đêm nay chỉ se lạnh. Theo lời của một nhân viên khách sạn Hoa Sim, hai hôm nay trời ấm hơn, bữa trước lạnh lắm, không dám ra đường vào ban đêm. Lửa được đốt lên. Cuộc nhậu bắt đầu.

Đêm nay có hai món ăn mà theo người dân ở đây là đặc sản: heo “đồng bào” quay và gà “đồng bào” nướng. Ba ghè rượu cần được mang ra nhưng không phải rượu người Rơ Mâm làm mà của công ty Y Miên tận bên Buôn Ma Thuột mang qua.

Dễ hiểu thôi, từ nhiều năm nay, nhiều dân tộc ở miền cao nguyên này đã không còn dùng mì, bắp hoặc gạo để làm rượu cần nữa. Họ đã được chỉ dạy như vậy. Bữa nhậu có đội văn nghệ của người Rơ Mâm múa hát mua vui. Có chút lạ nhưng sao mà nhạt thếch và vô duyên!

Miếng thịt heo mềm, thơm và ngọt. Còn thịt gà chắc. Tất cả đều chấm muối ớt. Cả bọn ngấu nghiến ăn như chưa bao giờ được ăn. Vì đói và ngon. Ăn nửa chừng, những dĩa cơm ống nứa được dọn ra. Có khúc màu vàng nhưng phần nhiều có màu trắng, chứng tỏ trình độ nướng chỉ cỡ lớp chồi! Giá mà thịt được nướng trực tiếp trên than, còn cơm dẻo hơn và vàng đều sẽ là bữa ăn ở rừng hoàn hảo. Nói đến đặc sản, Măng Đen còn có món cá tầm được nuôi ở chính vùng đất này với hai món dễ nấu, dễ làm: nướng muối ớt và lẩu.

Măng Đen có diện tích khoảng 100.000ha. Trừ vài trăm hecta xây dựng nhà ở và đường sá, còn lại là rừng nguyên sinh, đặc biệt có 4.000ha rừng thông trồng năm 1980. Theo một người dân giải thích, việc trồng thông là nhằm phủ kín những khu vực giao tranh giữa hai bên. Những gốc thông trên 30 tuổi giờ đã vững chãi, che khuất những niềm đau của hai phía và mang lại vẻ đẹp quyến rũ cho mảnh đất này. Cộng với độ cao khoảng 1.500m, nhiệt độ dao động 15 – 25 độ C, Măng Đen là vùng đất lý tưởng cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.

Từ những năm 2005, nhiều nhà đầu tư từ TP.HCM đầu tư khách sạn, tu bổ những thắng cảnh với số vốn hàng ngàn tỉ đồng kèm theo lời cam kết sẽ đi vào hoạt động cuối thập kỷ trước. Vậy mà đến mãi hôm nay, những ngôi biệt thự, những khách sạn chỉ xong phần khung… rồi để cho rêu phủ kín. Một “thổ dân” cho biết, hàng trăm ngôi biệt thự đang trong tình trạng hoang phế như vậy! Có thể khách ít mà nhà đầu tư không còn mặn mà với Măng Đen. Cũng có thể khủng hoảng vài năm trước quất qua mà họ kiệt quệ, thiếu vốn để tiếp tục cuộc chơi. Ngày sau chưa biết ra sao, còn bây giờ Măng Đen đang ở trong vòng tròn luẩn quẩn. Không có hạ tầng, dù ở mức trung bình, sẽ không có khách đến. Mà vắng khách, nhà đầu tư sẽ không thể quay vòng vốn và xác lập niềm tin “chiến lược”.

Ông Dương Tấn, một chuyên gia về quy hoạch, sau khi dạo quanh một vòng Măng Đen lạnh lùng phán: “Quy hoạch như vậy là ổn. Chỉ sợ lãnh đạo ở đây vì nôn nóng mà phá nát “hòn ngọc của miền cao nguyên” này. Bằng mọi cách phải giữ. Phải biết chờ đợi. Nhưng trước hết phải tạo nhiều cơ hội hơn nữa để thu hút đầu tư”. Khi nghe nói Măng Đen sẽ có sân bay trực thăng, ông ồ lên thích thú nhưng kịp thời nói thêm: “Không dễ chút nào đâu. Phải làm sao thu hút khách đến với Kon Tum, sau đó họ sẽ lên đây”. Theo vị chuyên gia này, trước hết phải dùng ngân sách nhà nước xây dựng hạ tầng hoàn chỉnh. Nghe ông nói, tôi lại rơi vào vòng hoang mang luẩn quẩn, trước hết Nhà nước đang thiếu tiền!
Bao giờ Măng Đen sẽ là Đà Lạt thứ hai? Tôi cũng không biết nữa…

Theo Minh Phúc (báo Sàigòn Tiếp Thị)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Trước Tết Nguyên đán, tranh thủ lúc mọi người đang bận rộn cuối năm, mùa du lịch rơi vào thấp điểm, không ít người trẻ lại xách ba lô lên đường săn hoa đào nở ở phía bên kia đèo Bảo Lộc - Lâm Đồng. Trong tiết trời lạnh lẽo, sắc hoa đào như một bếp lửa sưởi ấm - trời càng lạnh, đào càng rực rỡ…

Hoa đào của vùng cao nguyên này khác biệt với hoa đào miền Bắc, nhưng lại na ná hoa mai vàng của miền Nam. Theo những người sống lâu năm ở Đà Lạt, hoa đào hiện được trồng phổ biến ở đây có nguồn gốc từ đào rừng. Khi bác sĩ Yersin phát hiện ra vùng đất này và người Pháp bắt đầu khai phá, xây dựng thành phố du lịch, nghỉ dưỡng.

Ông Nguyễn Thái Hiến (khi đó là Giám thị lục lộ) được giao nhiệm vụ tìm một loại cây đặc trưng để trang hoàng phố xá, dinh thự. Từ đó, ông cất công đi tìm và phát hiện một loại cây có dáng hoa mai nhưng có sắc hoa đào và đề cử làm cây trồng trang trí. Từ đó, loại cây này mang tên mai anh đào hoặc đào Đà Lạt – để phân biệt với hoa đào Bắc bộ. Nhiều người dân quen gọi đó là mai hồng để phân biệt với mai vàng Nam bộ.

Cứ khoảng dịp Noel đến Tết Tây, hoa mai anh đào lại rực rỡ. Nếu Tết Nguyên đán rơi vào cuối tháng 1 dương lịch, tức Tết sớm thì mai anh đào vẫn còn khoe sắc. Vì thế, khi khai thác du lịch, chính quyền địa phương đã giao cho nghệ nhân chuyên về hoa đảm nhận việc ra hoa của mai anh đào.

Tùy theo thời tiết, nghệ nhân có nhiệm vụ ép ra hoa trễ hơn thông thường để hoa nở đúng dịp Tết Nguyên đán. Từ độ Rằm tháng Chạp trở đi, hoa bắt đầu e ấp. Đến khoảng 25 Tết, sắc mai anh đào rực rỡ khắp con đường quanh bờ hồ Xuân Hương và các tuyến đường Lê Đại Hành, Nguyễn Chí Thanh…

Đặc biệt, sắc hoa như nhuốm hồng con đường biệt thự cổ Trần Hưng Đạo, tô điểm trên những mái ngói cũ rêu phong…

Riêng mai anh đào ở khu vực ngoại ô và vùng phụ cận của Đà Lạt vẫn ra hoa tự nhiên, tức vào Tết dương lịch. Trời càng lạnh, sắc hoa càng rực rỡ và tươi lâu hơn.

Ở vùng Đạ Sar, trên tuyến đường DT723 từ Đà Lạt đi Nha Trang, mai anh đào còn thuần khiết. Chúng mọc ngẫu nhiên bên vệ đường hoặc mọc ngay trước hiên nhà của người dân bản địa. Ở vùng này, mai anh đào không được biết đến, thay vào đó là cái tên mai hồng nghe thân thương. Hầu như nhà nào cũng có một cây mai hồng. Có cây vài chục năm tuổi, trông già cỗi và hoa luôn rực rỡ.

Thay vì chờ đến lúc ngắm mai anh đào ngay tại trung tâm Đà Lạt, nhiều người đến sớm hơn để ngắm loài hoa này nở đúng hẹn ở vùng ngoại ô. Đi xe máy vòng vèo qua những ngõ đường, lên xuống những con dốc để săn hoa mới thú vị.

Cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5-10 cây số, mai anh đào nhiều vô kể. Có những nơi, mai anh đào mọc khắp con dốc, sườn đồi. Trên cành cây trơ trụi, tưởng chừng như chết khô vì không một chiếc lá nào còn trên cây, bỗng dưng khoe những sắc hồng, nhuốm cả một vùng trời.

Trên nền trời xanh biếc, sắc hồng của hoa càng thêm rực rỡ. Người ta bảo rằng, sắc hoa như ngọn lửa hồng sưởi ấm cho mùa đông lạnh lẽo trên cao nguyên.

Hoa trổ ra từ thân, cành và bung nở rực rỡ níu chân du khách. Chủ nhân của các cây mai anh đào không lạ gì sự tò mò, hiếu kỳ của du khách nên thoải mái để khách ngắm nghía, chụp ảnh… với cây hoa bên hông nhà. Thậm chí, nhiều người còn mở cửa cho khách vào sân nhà hoặc lên tầng áp mái của ngôi nhà để tiếp cận gần hơn với mai anh đào.

Nhiều tay máy vác máy ảnh lang thang khắp các con đường vùng ngoại ô từ các huyện Lạc Dương, Đức Trọng đến các ngõ cách xa trung tâm thành phố để săn cho được những bức ảnh mai anh đào vừa đẹp vừa lạ. Họ bảo rằng, mai anh đào ở khu vực trung tâm không còn đẹp tự nhiên nữa bởi những khối bê tông hiện đại làm mất đi vẻ đẹp thuần khiết của hoa. Thế nên, họ cất công đi xa hơn để có những tấm ảnh ưng ý, những góc nhìn khác lạ.

Đà Lạt- xứ sở của ngàn hoa nhưng người ta chỉ nhớ có hai mùa hoa nở. Đó là mùa hoa dã quỳ vàng rực báo tin chuyển mùa và mùa hoa mai anh đào đỏ hồng nhuốm cả vùng khi tiết trời se lạnh.

Từ khoảng Rằm tháng Chạp đến Rằm tháng Giêng, đặt chân lên phố núi Đà Lạt, du khách dễ dàng nhìn thấy những con đường hồng rực hoa mai anh đào.

Con dốc Nguyễn Chí Thanh mai anh đào rực rỡ nhất. Con đường quanh hồ Xuân Hương, mai anh đào nhuộm hồng đầy thơ mộng. Xa một chút là đường Trần Hưng Đạo, mai anh đào quý phái bên những ngôi biệt thự, tô điểm trên những mái ngói cũ rêu phong.
Tết này, mai anh đào càng rực rỡ và mùa hoa kéo dài bởi tiết trời lạnh.

Theo An Nhàn (báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!
(TNO) - Đối với những du khách tầm thường như chúng tôi vốn chỉ biết tới hoa ban, cơm lam và rượu ngô, chuyến công tác qua vùng cao Tây Bắc còn hơn một cuộc hành hương về biên cương Tổ quốc.

Bùi Thị Hương Giang, nhân viên Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lào Cai, khoe cuốn sổ thông hành dày đặc con dấu của hai nước, và nói: "Hầu như tuần nào bọn em cũng qua Trung Quốc đi chợ Hà Khẩu".
Chúng tôi đứng bên cầu biên giới, nhìn qua nước láng giềng khổng lồ phía bắc Việt Nam. Những dòng người thong thả qua lại, tay xách trĩu hàng. Cuộc chiến biên giới đã lùi xa, những ký ức đẫm máu chẳng hề đọng lại trong những người trẻ như Giang và bạn bè cô, vốn sinh ra sau thời điểm đó...

Thành phố miền biên viễn nay san sát trụ sở, cửa hàng, nhà cao tầng, người người hối hả. Ô tô biển trắng nườm nượp dạo phố. Ga xe lửa chen chúc từng đoàn khách du lịch ngược xuôi. Những quán ăn sáng đèn thâu đêm văng vẳng tiếng nói cười, tiếng cụng ly mời rượu...

Khó có thể tưởng tượng hơn 34 năm trước, nơi này hầu như đã bị hủy diệt hoàn toàn sau cuộc rút lui của quân xâm lược* Trung Quốc.

Đó cũng là cảm giác của nhiều người khi đến vùng chiến địa khốc liệt gần 60 năm trước tại thành phố Điện Biên Phủ. Đồi A1, mà người Pháp gọi Eliane 2, là điểm hành hương khó người Việt nào có thể bỏ qua. Di tích ấn tượng nhất nơi đây là hố bộc phá khổng lồ từng thổi bay một đại đội lính lê dương, và sóng xung kích làm choáng váng đại bộ phận quân Pháp, mở đường cho bộ đội xung phong. 960 kg chất nổ đã được chuyển qua đường hầm mà quân ta đã miệt mài đào trong suốt 14 ngày, dưới sự chỉ huy của đội trưởng Nguyễn Phú Xuyên Khung. Tuy nhiên, cũng như tại hầm chỉ huy của tướng Pháp Christian de Castries, nay được quây rào và lắp mái che trông như một kho chứa hàng, thật vất vả để du khách có thể hình dung diễn tiến bi hùng của trận đánh làm rung chuyển thế giới này.

Chiều đầu đông, Mường Thanh lặng thinh. Sương và khói hương lãng đãng từ bia tưởng niệm những người đã ngã xuống, vì Việt Nam. Mảnh đất này từ lâu đã im tiếng súng.
***
Điện Biên Phủ là điểm khởi đầu và Lào Cai là nơi kết thúc chuyến đi qua các tỉnh biên giới Tây Bắc của chúng tôi. Đối với những người lần đầu qua vùng đất này, hành trình 280 km đã định nghĩa lại một loạt khái niệm.

Đường bộ, tức là đèo dốc liên miên bất tuyệt với những đoạn xóc nảy kinh người. Đèo, là những con đường hẹp ngoằn ngoèo giữa núi đá dựng đứng và vực sâu hun hút dài hàng trăm cây số. Sương, là một màu trắng sữa quánh đặc trong vài ba mét không nhìn thấy gì.  Sông, là Đà giang mênh mang âm trầm hùng tráng. Ruộng lúa, là những bậc thang đầy mê hoặc thoai thoải bám theo sườn núi.

Lái xe, là thiếu tá Lợi của Biên phòng Điện Biên hay thiếu úy Điệp của Biên phòng Lai Châu. Theo tôi, lính biên phòng vùng biên cương phía bắc là những tay lái giỏi nhất Việt Nam. Lạnh lùng và nhẹ nhàng, các anh hầu như không giảm chân ga ngay ở những "cùi chỏ" hiểm trở nhất, trong khi khách miền xuôi toát hết mồ hôi bất chấp nhiệt độ bên ngoài chỉ trên dưới 10 độ C.

Và núi, là Hoàng Liên Sơn, là dãy Sông Mã trập trùng kỳ vĩ. Những ông khổng lồ nối liền trời - đất ở vùng cao phía bắc Việt Nam đã đè bẹp mọi khái niệm về núi ở tất cả các tỉnh thành khác trong nước. Wytze Heida, kỹ sư nông nghiệp người Hà Lan đang làm việc cho một hãng sữa lớn, từng nói với tôi rằng "bi kịch" lớn nhất của đất nước anh là... không có núi. Chính vì vậy, 90% người Hà Lan du lịch Việt Nam đã tìm đến Tây Bắc.

Con số nêu trên chưa hẳn chính xác, nhưng ở vùng đất này, không khó để bắt gặp hình ảnh các ông Tây ngửa đầu sững sờ ngắm núi. Núi đã trở thành biểu tượng số một và thiêng liêng, là nơi cư trú, che chở cho đồng bào các dân tộc Thái, H'Mông, Dao, Mường, Tày, Nùng...

Núi rừng Tây Bắc từ ngàn năm qua đã như một trường thành không bao giờ sụp đổ góp phần chặn bước tiến quân xâm lược. Núi là nơi dân và quân nước Việt bất kể các sắc tộc siết chặt tay nhau, xuất kỳ bất ý giáng cho kẻ thù những đòn chí mạng.
***
Từ Lai Châu theo quốc lộ 4D, qua đường đèo Bình Lư đẹp ngộp thở và hung hiểm đến dựng tóc gáy, ở độ cao 1.600 m so với mực nước biển, là đến Sa Pa.

Năm 1918, người Pháp đã xây dựng những biệt thự đầu tiên và từng bước biến vùng đất ở lưng chừng núi Lô Suây Tông thành một viên ngọc của miền Tây Bắc. Tất nhiên, tuyệt đại đa số cư dân thuộc địa không có cơ hội thưởng lãm viên ngọc này. Vùng đất quanh năm mát mẻ Sa Pa lúc đó là lãnh địa của người châu Âu, trong khi vào thế kỷ trước vẫn do các băng đảng kiểm soát với các cuộc chém giết, cướp bóc thường xuyên. Trong dòng chảy thời cuộc, thị trấn xinh đẹp này đã nhiều lần bị hủy hoại mà gần nhất là vào năm 1979, cùng số phận với thành phố Lào Cai.

Sa Pa ngày nay, theo những người nhiều lần lên xuống, đã thay đổi quá nhiều và không còn vẻ thơ mộng như xưa. Tuy nhiên, đối với những kẻ lần đầu đặt chân đến và không nợ nần gì với quá khứ, thì đây vẫn là một điểm đến thú vị. Sức hấp dẫn của Sa Pa không hẳn nhờ các danh thắng như vườn hoa núi Hàm Rồng, thác Bạc, cầu Mây, bãi Đá cổ... mà phần lớn do không gian văn hóa độc nhất vô nhị Việt Nam. Nơi đây có 3 "lực lượng" xấp xỉ nhau, gồm đồng bào các dân tộc bản địa, người Kinh đảm trách thương mại dịch vụ và khách du lịch.

Đồng bào dân tộc, mà đông nhất là H'Mông và Dao, có mặt ở mọi ngóc ngách của thị trấn. Họ ngồi dày đặc trên vỉa hè bán các loại sản phẩm dệt từ thổ cẩm, liên tục xua tay lắc đầu "không phải Trung Quốc" khi khách hàng tỏ ý nghi ngờ về xuất xứ hàng hóa. Một bộ phận đông đảo khác mặc quần áo rực rỡ ngồi nhàn tản ở quảng trường thị trấn, sẵn sàng làm mẫu ảnh cho bất cứ tay máy nào và đương nhiên, sẵn sàng nhận thù lao.

Du khách nước ngoài ở thị trấn Sa Pa, xét về mật độ, có lẽ là lớn nhất Việt Nam. Và những cuộc giao lưu văn hóa Đông - Tây cứ thế diễn ra hằng ngày hằng giờ. Thế nên chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy những bà cụ bán thổ cẩm người Dao hay H'Mông nói tiếng Anh như gió với khách nước ngoài.

Sự tăng trưởng du lịch nhanh chóng, làn sóng du khách đổ xô vào thị trấn yên bình này không chỉ tạo ra hình ảnh độc đáo như thế, mà còn là những nốt trầm nặng lòng khách đa cảm. Đó là những cụ già bỏ qua sự kiêu hãnh của người vùng sơn cước, lẵng nhẵng bám theo du khách chào bán những cái túi nhàu nát và  luôn miệng "không mua thì cho tiền đi".

Đó là những đứa bé phong phanh giữa trời lạnh cắt da, ngủ gục trên vỉa hè chợ đêm trước những con bướm bện bằng chỉ giá 20.000 đồng...
Tuy nhiên, đó đâu chỉ là câu chuyện của riêng vùng đất này.
***
Như mọi du khách phù phiếm khác, tôi cũng vác máy ảnh xuống phố. Ba cô gái H'Mông đang đứng chống nạnh ngang tàng chuyện trò rôm rả tại một bức tường đá. Quá đẹp. Tôi đưa máy ảnh lên, cô đứng giữa lập tức quắc mắt nói lớn: "Chụp hình, ten đô la!".

Trong thoáng chốc, tôi và cô ấy, một nam một nữ, một Kinh một H'Mông, nhìn nhau. Rồi cả hai cùng bật cười rộ. Đó là một buổi sáng tháng 12 năm 2013, sương mù giăng trắng huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, vùng biên cương Tây Bắc.

Theo Hải Thành (báo Thanh Niên Xuân)
Du lịch, GO!

* Nguyên văn toàn bài từ báo Thanh Niên.
nghe nhạc trực tuyếnNấu món chay | học nấu ăn DJ - Ảnh đẹp | xalotinnhanh